Bạc - Kim loại quý ứng dụng trong y học

Bạc là kim loại quý trong tự nhiên được biết tới chủ yếu với tác dụng trang trí, trang sức. Tuy nhiên, Bạc thực sự là một thành phần ngoài trái đất được ban cho con người với nhiều tác dụng chữa bệnh hiệu quả, đặc biệt là khả năng kháng khuẩn.

Tuy nhiên, Bạc thực sự là một thành phần ngoài trái đất được ban cho con người với nhiều tác dụng chữa bệnh hiệu quả, đặc biệt là khả năng kháng khuẩn.

Bạc được sử dụng trong y học từ xa xưa với công dụng thải độc, kháng khuẩn (ảnh minh hoạ)

Nguồn gốc kim loại Bạc trên trái đất

Bạc là một trong năm loại kim loại cổ xưa nhất trên trái đất được loài người phát hiện theo thứ tự: Đồng, chì, vàng, bạc, sắt. Mặc dù, cùng nhóm kim loại nặng như chì, cadimi, thủy ngân, nhưng bạc không hề độc hại mà rất an toàn cho người.

Về nguồn gốc của bạc, bạc không phải là loại kim loại hình thành sẵn trên trái đất mà có nguồn gốc trong vũ trụ tương tự vàng. Các nhà khoa học cho rằng, nguyên tố bạc tới trái đất từ các vụ nổ những ngôi sao bé trong vũ trụ từ thời kỳ sơ khai. Do đó, bạc và vàng đều là các kim loại hữu hạn trên trái đất. Khi tới trái đất, kim loại bạc trở thành một món quà vô giá cho con người.

Ứng dụng của kim loại Bạc trong sức khỏe Đông y

Đông y sử dụng đồng bạc xòe, thìa bạc để cạo gió, đánh cảm từ lâu. Cách làm rất đơn giản. Đối với người bị trúng gió, nhiễm lạnh, bôi một chút dầu lên khu vực cần cạo gió, thường là vùng lưng, khu vực các khớp, sau đó sử dụng đồng bạc, dây chuyền bạc di chuyển từ trên xuống dưới cho tới khi đồng bạc chuyển màu đen.

Ngoài ra, các thầy thuốc ở phương Bắc còn sử dụng một loại dung dịch có chứa nguyên tố bạc gọi là keo bạc trong nhiều bài thuốc trị bệnh bí truyền có tác dụng đặc trị các chứng bệnh tiêu hóa, hô hấp, nhiễm trùng, lở loét…. Tác dụng này sau đã được chứng minh là nhờ tính kháng khuẩn cực mạnh của nguyên tố bạc và lành tính với cơ thể người.

Ứng dụng của kim loại Bạc trong y học hiện đại

Ông tổ ngành Y phương Tây là Hypocrate đã từng ghi chép lại và khẳng định “Bạc có tính chất ngăn ngừa và chống lại một số loại bệnh”. Tới năm 1920, FDA mới chính thức thông qua cho phép sử dụng muối bạc như chất kháng khuẩn. Tuy nhiên, sau này muối bạc không được ứng dụng phổ biến vì độc tính với tế bào, gây bỏng rát cho cơ thể. Thay vào đó, bạc nguyên chất, keo bạc, Nano bạc nguyên chất được sử dụng rất phổ biến.

Hiện nay, dạng dùng chủ yếu được cho phép của Bạc là dùng ngoài da, niêm mạc như chế phẩm cao bôi bạc nguyên tố cho vết thương hở, rửa tay khô kháng khuẩn, nước súc miệng, súc họng nano bạc…. Bạc Sulfadiazin 1% được công nhận là thuốc sử dụng trong điều trị các vết bỏng độ 2, độ 3.

Nano bạc Plasma kháng khuẩn, chống virus, chống nấm cực mạnh.

Để lại bình luận

Xin lưu ý, các bình luận phải được phê duyệt trước khi chúng được xuất bản